Buddhist Self-Discourse (Udàna) - Minor (Khuddhaka Nikaya) by Most Venerable Thich Minh Chau translated into Vietnamese Introduction to Buddhist Sutras Self-Discourse (Udàna). The Udana Sutra, translated as Buddha's own discourse, means that these sutras the Buddha said himself, due to sudden strong emotions, no one invited the Buddha to preach. It is also sometimes translated as "There is no question of self-talk", which means that no one asked the Buddha to speak for himself. Sometimes translated as "Inspirational Words", that is, the sudden speech, motivated by strong emotions, when the Buddha himself witnessed things happening around. According to the Upanishads, the word Udàna means the breaths of life (prāna, apāna, sumāna, vyāna, udāna), which are emitted from the center of the throat. This volume consists of eight chapters. Each chapter has 10 sutras. Thus there are eighty sutras in all. For ease of search, when writing "I, 2", the time is unde...
Posts
Showing posts from May, 2022
- Get link
- X
- Other Apps
Kinh Phật Tự Thuyết (Udàna) -Tiểu Bộ (Khuddhaka Nikaya) by Hòa thượng Thích Minh Châu dịch Việt Giới thiệu Kinh Phật Tự Thuyết (Udàna). Kinh Udàna, được dịch là Phật tự thuyết kinh, nghĩa là những kinh này đức Phật tự nói, do cảm xúc mạnh đột khởi, không ai thỉnh Phật thuyết. Cũng có khi dịch là "Vô vấn tự thuyết", nghĩa là không có người hỏi đức Phật tự nói. Có khi được dịch là "Những lời cảm hứng", nghĩa là lời nói đột khởi, do cảm xúc mạnh thúc đẩy,khi đức Phật tự mình chứng kiến những sự việc xảy ra xung quanh. Theo tập Upanishads, chữ Udàna có nghĩa là các hơi thở sinh mệnh (pràna, apàna,sumàna, vyàna, udàna), ở trung tâm cổ họng được phát ra. Tập này gồm tám chương. Mỗi chương có 10 kinh. Như vậy có tám mươikinh tất cả. Ðể tiện tìm kiếm, khi viết "I, 2" thời hiểu là chương I, kinh số 2; khi ghi "IV, 7", thời hiểu là chương IV kinh 7 v.v... Mỗi kinh gồm hai phần, phần đầu văn xuôi, ghi nhận một câu chuyện do đức Phật chứng kiến hay do ...
- Get link
- X
- Other Apps
CONFIDENTIAL CAKE STORY. The sutta clearly states that the peaceful purpose of Buddhism is the Banh Mi Sutra (Defining the attitude of not arguing with anyone in the world). Moreover, this sutta introduces the method of resolving disputes, scepters, and swords, leading to the destruction of unwholesome dharmas, leaving no residue. This sutra can be considered as consisting of three statements: The first two are the two statements of the Blessed One, expressing the Buddha's undisputed view and the method for the cessation of disputes. The third statement is from the Venerable Maha Kaccana, which explains more broadly and clearly the second statement of the Blessed One, and clearly outlines the process of ending disputes, evils, and unwholesome states. 1/ The first answer: When asked by a non-Buddhist named Dandapani (hand stick) how the recluse Gotama had his opinion, what he preached. The Blessed One answered clearly and emphatically: "Friend, according to my teaching, in the ...
- Get link
- X
- Other Apps
KINH BÁNH MẬT. Bài kinh nêu rõ mục đích hòa bình của đạo Phật là Kinh Bánh Mật (Xác định rõ thái độ không tranh chấp với một ai ở đời). Hơn thế nữa, kinh này lại giới thiệu phương pháp giải quyết các tranh chấp, chấp trượng, chấp kiếm, đưa đến tiêu diệt các bất thiện pháp, không còn dư tàn. Kinh này có thể xem là gồm có ba lời tuyên bố: Hai lời đầu là hai lời tuyên bố của Thế Tôn, nói lên quan điểm không tranh chấp của đức Phật và phương pháp diệt tận các tranh chấp. Lời tuyên bố thứ ba là của Tôn giả Mahà Kaccàna, giải thích rộng hơn và rõ hơn lời tuyên bố thứ hai của Thế Tôn, và trình bày rõ tiến trình đoạn tận các tranh chấp, các ác, bất thiện pháp. 1/ Câu trả lời thứ nhất: Khi được một ngoại đạo tên là Dandapàni (gậy cầm tay) hỏi Sa môn Gotama có quan điểm thế nào, giảng thuyết những gì. Thế Tôn trả lời một cách rõ ràng dứt khoát: “Này Hiền giả, theo lời dạy của Ta, trong thế giới với chư Thiên, Mara và Phạm thiên, với các chúng Sa môn, Bà-la-môn, chư môn và loài người, không ...
- Get link
- X
- Other Apps
Part One I. INTRODUCTION About a century after the Buddha entered Nirvana, the community of monks divided into 18 or more sects. The two sects of which are Theravada and Sarvāstivāda, due to the volume of the scriptures and their widespread influence, have pushed back all the other sects into the dark. But while most of the canon of Ther. has been transmitted to us, the same cannot be said of the canon of the Sarvāstivāda. The Sanskrit originals of this canon are largely lost, except for a few passages found in Central Asia, a few brought from Nepal, and more recently the Gilgit documents have been discovered along with Chinese and Chinese translations. Tibetan script. A comparative study of these two canon will shed much light on the origins of the ancient canon, similarities and differences between the theories of the two factions. Many eminent scholars have tried to work in this direction, but most have limited themselves to the Vinayapitaka, such as Dr. W. Pachow in his "Compa...
- Get link
- X
- Other Apps
Phần Một I. DẪN NHẬP Khoảng một thế kỷ sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, cộïng đồng Tăng lữ phân thành 18 bộ phái hay hơn nữa. Hai bộ phái trong đó là Thượng tọa bộ (Theravàda) và Nhất thiết hữu bộ (Sarvàstivàda), do khối lượng kinh tạng và ảnh hưởng rộng rãi, đã đẩy lùi vào bóng tối tất cả bộ phái khác. Nhưng trong khi hầu như toàn vẹn tạng kinh của Thượng tọa bộ (Ther.) được truyền đến chúng ta, ta lại không thể nói như vậy về tạng kinh của Nhất thiết hữu bộ (Sarv.). Nguyên bản Sanskrit của tạng kinh này phần lớn đều mất hết, chỉ trừ vài đoạn được tìm thấy ở Trung Á, một ít được mang từ Nepal, và gần đây có những văn liệu Gilgit được khám phá cùng với những bản dịch chữ Hán và chữ Tây-Tạng. Một sự nghiên cứu so sánh về hai tạng kinh này sẽ rọi nhiều ánh sáng vào nguồn gốc của tạng kinh cổ, những tương đồng và biệt dị giữa các lý thuyết của hai bộ phái. Nhiều học giả danh tiếng đã cố làm việc theo chiều hướng này, nhưng phần đông chỉ giới hạn vào tạng luật (Vinayapitaka), như Tiến sĩ W...